Phỏng vấn Elliot Erwitt – Trích Tạp chí Professional Photography (Nov-Dec 2016 Issue)

Sự xuất hiện đột ngột của “Home Around the World” – cuốn sách mới của Elliott Erwitt, đã khiến mọi người ở Magnum London không khỏi ngạc nhiên. Tất cả còn chưa kịp biết để đưa tin thì cuốn sách đã được bày bán và lúc biết thì sách đã bán hết. Vội vàng sắp xếp một cuộc phỏng vấn với tác giả, tôi phải chuẩn bị những câu hỏi về cuốn sách mình còn chưa được một lần cầm. Rất may là sau đó tôi kịp nhận được bản PDF của sách qua email, bản sách điện tử 300 trang đầy những ảnh, là những bức ảnh của chặng dài sự nghiệp chụp ảnh chuyện nghiệp của Elliot Erwitt. Trong đó còn có 4 bài viết đi sâu về cuộc đời và sự nghiệp của Erwitt, về cả hoạt động làm phim của ông. Khi tôi nói chuyện qua điện thoại với Erwitt, ông có lưu ý, “Đó không phải là sách của tôi, trong sách là ảnh của tôi, nói về tôi nhưng tôi không chủ trì xuất bản nó.

Erwitt, 88, một trong những nhân vật gạo cội nhất của Magnum, ông được mời tham gia Magnum bởi nhà đồng sáng lập Robert Capa hồi năm 1951. Elliott Erwitt có một sự nghiệp thành công với ảnh quảng cáo và ảnh báo chí nhưng ông được biết đến nhiều hơn qua những bức ảnh cá nhân của mình. Ảnh nhạy cảm, gây xúc động về đời sống gia đình, có, ảnh phê phán xã hội, có. Trong những năm gần đây, Erwitt tự tạo cho mình một ‘bản ngã’ khác với cái tên André S. Solidor (viết tắt A.S.S.), ‘người’ có những tác phẩm theo phong cách nghệ thuật đương đại mà Erwitt thường tự châm biếm. Như trong cuốn Home Around the World đề cập, cuộc sống nay đây mai đó của Erwitt bắt đầu ngay từ lúc ông còn bé với rất nhiều những lần chuyển nhà. Erwitt được sinh ra Pháp, bố mẹ ông là người NgaDo Thái nhập cư, sau đó ông sống ở Milan cho đến năm 11 tuổi thì cả gia đình sang Mỹ định cư. Lúc sang Mỹ Erwitt vẫn chưa nói được tiếng Anh, ngôn ngữ thứ 3 của ông sau này. Bố mẹ Erwitt ly dị và ông sớm tự lập từ năm 15 tuổi, từ lúc bắt đầu in ảnh của các sao điện ảnh trong một phòng tối ở Los Angeles. Hơn 70 năm sau đó, sự nghiệp của ông vẫn gắn liền với những bức ông chụp Marilyn Monroe ra mắt phim Some Like it Hot, bức Nixon và Khrushchev tranh cãi nảy lửa trong căn bếp và bức chụp Jackie Kennedy tại lễ tang của John F. Kennedy. Vậy nhưng, vẫn là những chủ đề thường nhật như sự tương phản, người đi tắm biển, những chú chó “giống người” đóng vai trò xương sống cho bộ sưu tập các tác phẩm của Elliott Erwitt.

Thời gian cho công việc quá nhiều đã ảnh hưởng lớn đến cuộc sống gia đình của Erwitt. Ông đã kết hôn đến 4 lần và thấy tiếc khi có những cuộc hôn nhân không như mong đợi và rằng đã không dành thời gian đủ nhiều cho các con mình. Việc cố gắng sắp xếp để thảo luận chi tiết với Erwitt về các tác phẩm của ông gần như là điều không thể. Những buổi phỏng vấn được ghi hình lại trước đây đều cho thấy rằng ông chưa bao giờ hài lòng với thể thức phỏng vấn và một vài phóng viên còn nhận xét là ông thiếu kiên nhẫn. Khi được hỏi về cảm hứng, kỹ thuật hay cách tiếp cận Erwitt thường nhún vai trả lời, “Nhiếp ảnh kể ra khá đơn giản. Đó chỉ là một phản ứng với điều bạn thấy, đặt nó vào một khung hình. Nhiếp ảnh chính là thế.” Càng lớn tuổi người ta đôi khi có khuynh hướng nói nhiều hơn nhưng với Erwitt thì ngược lại, ngắn gọn và xúc tích. Các câu hỏi được trả lời một cách gọn ghẽ nhất có thể và đôi khi còn bị lảng tránh. Cuối buổi phỏng vấn của tôi với Erwitt, ông ấy ra chiều hối lỗi, “Hy vọng là tôi không quá tẻ nhạt.” Tôi trấn an rằng không hề. Những ai muốn biết thật nhiều thông tin có lẽ sẽ không vừa lòng với cách đối thoại kiệm lời của Erwitt nhưng phong cách nói chuyện ngắn gọn, thông minh, thẳng thắn đã là một phần tính cách của ông. Erwitt có sức thuyết phục ở chỗ cần thiết, trong những bức ảnh của ông.

Midleton, Ireland, 1970
Milan, Italy, 1949
New York City, 1950
New York, New York, 1950
Chicago, Illinois, 1947

Lần gần nhất chúng ta nói chuyện là năm 1998, khi ông xuất bản cuốn sách Dog Dogs.

“1998 à? Tôi còn chả nhớ được mấy chuyện vừa xảy ra tuần trước.”

Lúc đó ông đang dự định chụp hình Sammy (chú chó của Erwitt) với tư thế đặc biệt của nó. Sau đó ông có đạt được mục tiêu không?

“Tôi có chụp một tấm của Sammy với tư thế đó ở Reichstag, Berlin nhưng sau đó tôi không tiếp tục dự án. Giờ thì Sammy cũng đang vui đùa trên thiên đàng rồi. Nó sống khá lâu và mới mất năm ngoái.”

Tình yêu chó của ông thể hiện rõ qua những bức ảnh. Giờ ông có nuôi một con không?

“Năm ngoái tôi sang Cuba và mang theo một con khi về nhưng giờ giao lại cho con trai chăm sóc rồi. Nên về cơ bản thì tôi có một chú chó nhưng không chăm sóc nó.”

Xuất bản được bốn cuốn sách ảnh về chó, ông đã chụp được hết những bức về chó mà ông muốn chưa?

“Đó là một chủ đề mà tôi không bao giờ chán. Tôi nghĩ là mình chưa chụp hết những bức tôi muốn đâu, cứ khi đang cầm máy ảnh mà thấy chó thì chắc tôi sẽ chụp.”

Ông mua chiếc máy ảnh đầu tiên khi đang học trung học. Điều gì mang ông đến với nhiếp ảnh?

“Lôi cuốn tôi nhất là việc tôi được làm việc độc lập, không phải làm 1 tay nhân viên ở đâu cả. Công việc toàn thời gian duy nhất tôi từng làm là khi bị buộc phải nhập ngũ. Ngoài ra thì cả đời mình tôi đều làm việc tự do và hoàn toàn chủ động thời gian của mình.”

Thời điểm nào thì ông nhận ra rằng mình có thể sống bằng nhiếp ảnh?

“Rất sớm, lúc đó tôi chụp những người hàng xóm và nhận ra rằng mình có thể bán những bức hình đó.”

Ông ngưỡng mộ và bị ảnh hưởng bởi Cartier-Bresson. Có phải cuốn “The Decisive Moment” của Cartier-Bresson là một tác phẩm quan trọng đối với ông?

“Tôi không biết nhưng ảnh của Cartier-Bresson rất tuyệt. Tôi thích sự thông minh và tài năng của ông ấy. Nhưng phim cũng là cảm hứng của tôi. Phim thời hậu chiến, của Italia.”

Vai trò của ông trong quá trình thực hiện cuốn sách và triển lãm Home Around the World là gì?

“Tôi được phỏng vấn rất nhiều, đặc biệt là bởi Jessica McDonald – biên tập của cuốn sách kiêm curator của triển lãm. Cô ấy làm rất nhiều thứ, cả nói chuyện với bạn bè và các con tôi. Cô ấy làm suốt 2 năm, rất cực khổ tìm kiếm các thông tin chi tiết để hoàn thành cuốn sách.”

Caption của các bức ảnh trong đó rất ngắn gọn. Có phải là do ông muốn tự chúng nói lên nội dung của mình không?

“Đó có thể là một phần lí do, phần còn lại là do trí nhớ tồi của tôi.”

Trong cuốn sách mô tả ông lúc còn trẻ là “nhút nhát, nghiêm túc… luôn cố gắng đối diện với thực tại, quan sát thế giới xung quanh với nhiều cảm xúc cùng sự khiêm tốn” – nó có đúng không?

“Với tôi thì nó khó hiểu (nguyên văn: “deep”) quá.”

Có thể đó là điều mà André S Solidor, bản ngã kia của ông, sẽ nói về ông ấy?

“Đúng đấy. Đó là lí do mà ASS tồn tại.”

 

 

Che Guevara, Havana, 1964

 

Felix, Gladys and Rover, New York, 1964

Cuốn sách có rất đa dạng các tác phẩm. Ông cảm thấy thế nào khi xem lại những bức ảnh chụp từ lâu của mình? Chúng khá khác biệt khi đem so với những bức ảnh chụp về sau này.

“Nhờ cuốn sách này, tôi có dịp để xem lại nhiều thứ, rồi tôi còn đang làm một cuốn sách khác cho những bức ảnh cũ của mình cùng những bức chụp trong lần đến Cuba gần đây. Nên kể ra tôi vẫn muốn tìm lại những bức ảnh cũ để xem, nếu thấy hợp thì sẽ cho vào cuốn sách hoặc triển lãm.”

Ông đến Cuba lần đầu năm 1964. Giờ ở đó có khác không?

“Không quá nhiều, đặc biệt là khi anh thử rời thành phố thủ đô để khám phá nhiều hơn. Họ vẫn luôn nói về sự thay đổi nhưng nhà cầm quyền Cuba bây giờ cũng là chính quyền lúc bấy giờ [1964].”

Trong một vài bức hình thời kì đầu ấy có chứa sự dí dỏm. Ông có thích đặt yếu tố dí dỏm vào những bức hình của mình không?

“À chúng đều là vô ý. Tôi không thức dậy vào buổi sáng và quyết định rằng hôm nay mình sẽ hài hước một tí.”

Đó có phải là một phần tính cách của ông?

“Có thể.”

Một trong những bức nổi tiếng nhất trong cuốn sách là Felix, Gladys và Rover. Câu chuyện đằng sau bức ảnh đó là thế nào?

“Đó là từ buổi chụp cho một viết bài về giày của tạp chí New York Times. Tôi đã nghĩ là mình sẽ chụp từ góc nhìn của một chú chó, vì thường chó thì sẽ thấy nhiều giày hơn. Bức hình được dùng cho bài là một bức khác cũng tôi chụp lúc đó. Đó là lí do vì sao bạn nên giữ quyền tác giả của mình với những bức ảnh, để sau này có thể dùng chúng nếu có giá trị.”

Trong sách có một vài contact sheet, ông lại từng nói là nhiếp ảnh gia thì không nên show contact sheet. Có phải ông đã đổi ý không?

“Giờ tôi không còn lo nhiều về chuyện này nữa khi mọi người đều làm thế rồi. Có thể có không phải hoàn toàn là lí do trong trường hợp này, theo tôi thì nó ổn vì cuốn sách hướng đến những người yêu thích nhiếp ảnh hơn là đại chúng.”

Ông từng nói trong nhiều bài phỏng vấn rằng mình nhút nhát, vậy ông có đỡ nhút nhát hơn khi cầm máy ảnh không?

“Tất nhiên rồi. Lúc đó bản thân sẽ chú tâm vào các bức hình hơn, quên đi sự nhút nhát của bản thân. Thường thường tôi luôn cố chụp hình mà không để mọi người biết rằng tôi đang chụp nhưng có rất nhiều tình huống xảy ra.”

Ông có một bộ sưu tập những chiếc còi xe đạp, dùng khi chụp ảnh. Ông dùng chúng thế nào?

“Tôi dùng còi để mọi người nhìn tôi. Nó cũng có tác dụng cực tốt với con con vật. Tôi cũng dùng tiếng còi để làm mọi người đỡ lo lắng.”

Ảnh của ông thường là vui tươi. Có phải ông chủ động tránh ghi lại những lúc buồn trong cuộc sống của mình vào các bức ảnh?

“Tôi không biết là có ý thức được điều đó lúc chụp không nhưng đúng là tôi thích chụp lúc cuộc sống vui vẻ hơn là khi buồn. Còn trong suy nghĩ của tôi thì có cả 2 mặt.”

Công việc liên quan đến quảng cáo có quan trọng trong sự nghiệp của ông không?

“Tôi có một gia đình đông người và công việc đó thì lương ổn. Tôi cũng rất may mắn với nó. Đa số các dự án là dạng bài viết và cần tôi đi đến nhiều nơi trên thế giới, những nơi mà tôi sẽ không thể đến thăm nếu không làm công việc này.”

Fashion shoot, USA, 1990
New York, 1953

 

New York, 1953

 

Colorado, 1955

Lúc chụp hình thì đâu là thời điểm để ông biết rằng hình được chụp là tốt?

“Chỉ biết sau khi chụp xong, không phải trước đó. Rất nhiều trường hợp bạn nghĩ rằng bạn đã làm tốt nhưng kết quả hình sau đó cho thấy là không phải thế. Các lần khác thì lại kiểu bạn nghĩ mình chụp không tốt nhưng lại phát hiện ra điều ngược lại khi xem hình. Nhiếp ảnh không phải là khoa học chính xác.”

Bức ảnh bán chạy nhất của ông là bức nào?

“Đó là bức chụp người vợ đầu và đứa con đầu lòng, chụp trên giường cùng một con mèo. Nó được chụp vào 63 năm trước, có tuổi đời cao nhưng vẫn còn đang được bán. Chỉ là một bức chụp gia đình. Con gái tôi Ellen lúc đó được 6 ngày tuổi.”

Đó là một bức mà bậc cha mẹ nào cũng có thể thấy mình trong đó. Ellen thấy thế nào về bức ảnh?

“Lúc đó nó trần như nhộng trong hình. Điều mà nó sẽ không làm bây giờ.”

Phong cách nhiếp ảnh của ông có thể được dạy lại không hay đó là một phong cách riêng biệt?

“Bạn sẽ cần có cảm quan về bố cục, hình ảnh, không nhiều người có nó. Bạn có thể học, đến một mức độ nào đó nhưng cá nhân tôi nghĩ rằng đó là một năng khiếu bẩm sinh như cảm quan cho âm nhạc và một số kỹ năng đặc biệt khác.”

Trước đây ông hay băn khoăn về ảnh kỹ thuật số. Không biết bây giờ thế nào?

“Tôi chụp kỹ thuật số khi cần nhưng không thích và không giỏi. Tôi cần một phụ tá với ảnh kỹ thuật số. Tôi không quen dùng máy tính hay các loại máy móc khác nhiều, vẫn vụng về với chúng lắm. Với công việc thì thỉnh thoảng tôi cần phải dùng máy kỹ thuật số, chúng thực dụng và nhanh hơn. Nhưng với các dự án cá nhân tôi vẫn dùng film.”

Ông có crop ảnh của mình không?

“Việc crop hình khá ‘xa lạ’ với tôi. Tôi không nghĩ rằng crop hình là một cái tội nhưng tôi không làm thế nhiều. Thường thì những tấm hình đã được crop nhìn sẽ ra ngay là đã được crop.”

Ông có còn làm việc không?

“Còn. Chuyến đi Cuba năm ngoái cũng là công việc. Tôi đã tự quay lại trong năm nay. Tôi không làm việc nhiều nữa nhưng vẫn còn. Nhiều nhất là thời gian tôi đầu tư làm tập lưu trữ của mình. Nó đã được mua lại và tặng cho Đại học Texas, một nơi tuyệt vời để giữ nó.”

Cảm xúc của ông thế nào khi nhìn lại toàn bộ các bức ảnh trong sự nghiệp nhiếp ảnh của mình?

“Phức tạp. Giống như xem nhật ký và nó không hoàn toàn là một trải nghiệm dễ chịu. Thật tuyệt khi bạn tìm thấy thứ gì đó thú vị nhưng tôi không chắc là có tuyệt không khi bạn nhìn lại quá khứ của mình. Tốt hơn hết là cứ nhìn về tương lai.”

Cuốn Elliot Erwitt: Home Around the World được biên tập bởi Jessica S McDonald, Đồng Xuất bản: Aperture Foundation và Harry Ransom Center. Triển lãm cùng tên diễn ra vào 1/2017 tại ĐH Texas, Mỹ.

Tác giả: David Clark

Dịch: Nguyen LNP (nguyenlnp.com)

Leave a Reply

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.